Tuy hạn vay đã hết, họ vẫn không thể góp đủ số tiền để trả. Chủ nợ mấy lần cho người đến đòi, hai vợ chồng nhà ấy một van nài xin khất. cô trả lời: 8 là vú chó cái, 4 là vú lạc đà cái, 2 là vú đàn bà". Anh bèn hỏi cô làm vợ. Hôm cưới, người của nhà
Trạch trấu thời cắn cổ con ba ba Một lũ đàn bà đuổi bóp vú đàn ông. Người nằm xuống để cho lợn cạo lông Một chục quả hồng nuốt bà lão tám mươi Nắm xôi chiêm tán thằng bé lên mười Con gà chai rượu để nuốt người lao đao. Lươn nằm để cho ống bò vào Một đàn cào cào đuổi đớp đầu cá rô Thóc giống đương rừ chuột trong bồ Long đong, cân cấn mổ cò xôn xao
Ấy là một người đàn bà áo trắng đang ngồi chép sách trên một cái đôn màu cốm, bên một khung cửa sổ có mấy tàu lá chuối già lọt vào. Không nói gì đến cái quá giang cái thú của đàn, đến như cái mõ phím đàn, cái vú đàn, Bá Nhỡ cũng tò mò đến. Thế rồi những
Phần 1. Nhà hàng xóm có 2 cô con gái còn đang độ tuổi đi học. Con lai Pháp cho nên hai đứa nó nhìn đã lắm. Thành phát hiện ra hai chị em nó dâm bà cố luôn cũng vì khe vách ván giữa hai nhà, do lâu ngày vách ván tự động co lại tạo thành cái khe có khả năng nhìn thấu suốt
2. Một số giấc mơ thấy đàn lợn. Mơ thấy đàn lợn, đàn heo chết trôi: Điềm báo cho thấy có kẻ đang muốn hãm hại sự nghiệp của bạn. Nằm mơ thấy mình giết đàn lợn, đàn heo: Bạn đang chọn sai con đường đi và giấc mơ này nhắc nhở bạn nên chú ý hơn. Ngủ mơ thấy
Riêng còn mấy điều băn khoăn dưới đây xin mạn phép trình bày: 1. Về cách gọi "nam, nữ" có nguồn gốc Hán ngữ. Con gái. Gọi đầy đủ "nữ tử" (女子). Chì giới tính, chưa hàm ý gì về mặt xã hội hay quan hệ gia đình. Tuy nhiên trong giao tiếp thường nói về người
IBdNA2n.
Trong nhiều trường hợp, vú của phụ nữ có thể thay đổi về hình dạng và kích thước là điều hoàn toàn bình thường. Sự thay đổi của vú có thể bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác nhau, chẳng hạn như thay đổi nội tiết tố, mang thai, sinh con hoặc mắc các bệnh lý về tuyến vú. 1. Cấu tạo về vú của phụ nữ Nhìn chung, vú của người phụ nữ thường được cấu tạo bởi da, các mô liên kết, dây chằng Cooper và mô mỡ. Núm vú có thể mang nhiều hình dạng khác nhau, bao gồm hình nón, tròn, dẹt hoặc hình trụ. Màu sắc của núm vú sẽ phụ thuộc vào độ mỏng và sắc tố da ở vùng núm vú của người phụ vú là vầng tối bao quanh núm vú, có chứa các tuyến mồ hôi Montgomery, giúp tiết ra chất lỏng nhờn có khả năng bôi trơn và bảo vệ núm vú, đặc biệt là trong thời kỳ cho con bú. Nhìn chung, hình dạng và kích thước của vú có thể bị tác động bởi sự thay đổi hormone nội tiết tố nữ trong cuộc sống thường ngày, chẳng hạn như chu kỳ kinh nguyệt, mang thai, sinh con, mãn kinh hoặc mắc các bệnh lý. 2. Vú thay đổi thế nào theo tuổi? Theo các nhà nghiên cứu cho biết, vú của phụ nữ có thể thay đổi theo từng độ tuổi nhất định, cụ thể Sự thay đổi của vú trong độ tuổi 20Nhiều phụ nữ thắc mắc rằng vú thay đổi thế nào theo tuổi? Khi bước sang tuổi 20, kích thước vú của người phụ nữ có thể thay đổi vì nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như tăng cân, giảm cân hoặc mang thai. Một số phụ nữ khi mang thai ở độ tuổi này, kích thước vú sẽ có xu hướng tăng lên do cơ thể người mẹ tăng trọng lượng cũng như chuẩn bị cho con bú sau số phụ nữ ở độ tuổi 20 cũng có thể gặp phải hiện tượng thay đổi Fibrocystic, sự xuất hiện của các khối u vú lành tính ở một hoặc cả 2 bên vú. Những khối u này có thể làm thay đổi kích thước của bộ ra, những thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ tuổi 20 cũng dẫn đến sự biến đổi trong kích thích tố, chẳng hạn như estrogen. Khi lượng estrogen thay đổi có thể ảnh hưởng đến hình dạng và kích thước của Sự thay đổi của vú trong độ tuổi 30Vậy vú thay đổi thế nào theo tuổi 30? Trong giai đoạn này, lớp da ngực của người phụ nữ không còn căng đều như trước mà bắt đầu có dấu hiệu nhăn nheo do quá trình lão hoá tự độ tuổi này, lượng collagen và estrogen cũng suy giảm dần, khiến các tế bào da mất đi tính đàn hồi và làm cho các dây chằng bị trùng xuống. Khi đó, vú của người phụ nữ có thể bị chảy xệ. Ngoài ra, kích thước vòng 1 khi bước sang tuổi 30 cũng nhỏ dần nếu chị em không chăm sóc đúng cách. Vú thay đổi thế nào theo tuổi còn phụ thuộc vào lượng collagen và estroge trong cơ thể Sự thay đổi của vú trong độ tuổi 40Bước sang độ tuổi 40, nhiều chị em phải đối mặt với tình trạng mãn kinh và dẫn đến những thay đổi lớn ở vú. Nhìn chung, hình dạng và kích thước của vú thay đổi thế nào theo tuổi này còn phụ thuộc vào quá trình sản xuất estrogen ở buồng thời kỳ mãn kinh, lượng estrogen tiết ra ít hẳn so với trước đây, khi đó vòng 1 của người phụ nữ phải trải qua quá trình co hồi, mỡ sẽ thay thế cho các mô vú, khiến vú trở nên mềm và nhão hơn trước. Tuy nhiên, quá trình co hồi diễn ra không đồng bộ, do đó bạn có thể nhận thấy bộ ngực của mình có chỗ nhão hơn, mềm hơn hoặc thậm chí xuất hiện cục u nếu u mềm thì không đáng lo ngại.Khi đến độ tuổi này, nhiều phụ nữ có thể gặp phải tình trạng sa vú. Sự suy giảm collagen khiến cho độ đàn hồi của ngực bị mất đi đáng kể, khiến mật độ vú cũng giảm xuống và dẫn đến sa vú. Đây cũng là lý do tại sao các chuyên gia khuyến cáo phụ nữ ở độ tuổi 40 trở đi nên thường xuyên xét nghiệm chụp quang tuyến vú để kiểm tra mức độ suy giảm của mật độ vú. 3. Vú thay đổi thế nào khi mang thai? Thời kỳ mang thai là một trong những giai đoạn khiến vú của người phụ nữ trải qua nhiều thay đổi nhất. Nhìn chung, vú thay đổi khi mang thai là một điều khó tránh khỏi đối với hầu hết phụ nữ, thường có những biểu hiện cụ thể sauVú hơi căng tức báo hiệu mang thai. Nếu để ý kỹ hơn, bạn có thể nhận thấy tình trạng căng vú khi kỳ kinh nguyệt đầu tiên bị khi thụ thai, vú cũng trở nên cứng và to dần về kích thước. Điều này là do cơ thể bạn đang chuẩn bị sẵn sàng để chào đón em tĩnh mạch nổi rõ hơn trên bề mặt da ngực, đặc biệt ở những người đang mang thai có làn da xanh khi bạn cũng cảm thấy đau nhức ở vú, các tuyến xung quanh núm vú cũng căng trạng vú thay đổi khi mang thai còn xuất phát từ sự phát triển của các hormone trong tuyến sữa. Khi mang thai, núm vú có thể tiết ra các dịch màu trắng, hay còn được gọi là sữa non do các tuyến sữa sản xuất ra. Đa số chị em phụ nữ sẽ thấy vú thay đổi khi mang thai 4. Tình trạng thay đổi sợi tuyến vú ở phụ nữ Một số phụ nữ có thể gặp phải tình trạng thay đổi sợi tuyến vú, đây là một bệnh lý xảy ra do sự biến đổi của các mô sợi tuyến ở vú. Tình trạng này thường ảnh hưởng chủ yếu đến phụ nữ ở độ tuổi 40 và bước sang thời kỳ tiền mãn kinh. Sự thay đổi sợi tuyến vú hiếm khi xảy ra ở những phụ nữ trẻ tuổi và sau mãn các nhà nghiên cứu cho biết, tình trạng thay đổi sợi tuyến vú ở nữ giới có thể bắt nguồn từ các yếu tố làm ảnh hưởng đến nồng độ estrogen trong cơ thể, khiến cho mô vú tăng sinh và phát triển bất thường. Thông thường, sự thay đổi của sợi tuyến vú sẽ được chia thành 3 dạng khác nhauDạng nang Là dạng thay đổi sợi tuyến vú thường gặp nhất, đặc trưng bởi các nang chứa dịch và vỏ nang tăng sản biểu mô Vú xuất hiện các dạng mảng hoặc khối đặc không chứa dịch, khi ấn vào có cảm giác hoá sợi Là dạng thay đổi sợi tuyến vú hiếm gặp nhất, đặc trưng bởi các khối đặc hoặc mảng, kích thước có thể lên đến vài cm, có cảm giác đau nhẹ trước mỗi kỳ kinh chung, sự thay đổi sợi tuyến vú là một căn bệnh lành tính và không đe dọa tới tính mạng người bệnh. Tuy nhiên tình trạng này có thể gây ra các triệu chứng khó chịu như căng vú, đau vú hoặc sưng vú, đặc biệt là trước khi bắt đầu kỳ kinh nguyệt mới. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Nguồn tham khảo XEM THÊM Nên ăn gì để tăng size vòng 1? Giảm kích thước vòng 1 Những điều cần biết Nâng ngực size bao nhiêu thì đẹp?
Vú nằm trước ngực của cơ thể có nhiều hình dạng khác nhau và có kích thước thay đổi tùy theo mỗi người hoặc do di truyền. Vú nằm trên cơ ngực lớn kéo dài từ đôi xương sườn thứ 2 tới đôi xương sườn thứ 6, 1/4 vú đi xéo lên đến cuối nách, một lớp mỏng mô vú kéo dài từ xương đòn trên đến đôi xương sườn thứ 7 hoặc thứ 8 và từ giữa đến cơ lưng. Núm vú ở khoảng liên sườn 4 trên đường thẳng góc 1/3 ngoài xương đòn, giữa vú là quầng vú và núm vú, núm vú nhô lên là nơi đổ ra của các ống dẫn sữa và ống tuyến mồ hôi, quầng vú có các hạt nhỏ gọi là tuyến hạt. Vú được cấu tạo như thế nào? Phần lớn cấu tạo vú là mô liên kết, mô mỡ và dây chằng Cooper. Vú được bọc bởi da, cấu tạo giải phẫu vú gồm Núm vú có thể có hình dẹt, hình tròn, hình nón hoặc hình trụ. Màu của núm vú tùy thuộc vào sắc tố của da và độ mỏng của da ở vùng núm vú. Các cơ của núm vú khá phức tạp, chúng bám chặt vào mô liên kết và các sợi cơ chạy theo ba hướng khác nhau là chạy xung quanh, chạy xéo, chạy ngược lên và duỗi dài vào trong mô liên kết của quầng vú. Cấu tạo tuyến vú có khoảng 15-25 ống dẫn sữa và xoang chạy xuyên qua núm vú và mở ra ở đầu vú, được bao quanh bởi quầng vú đường kính từ 2-6 cm có màu từ hồng đến nâu sậm tùy theo độ tuổi, số lần sanh. Da của quầng vú có nhiều nốt nhỏ, không có lông, phía dưới là các tuyến nhờn Montgomery có vai trò tiết ra chất nhờn giúp ngăn ngừa núm vú và quầng vú bị nứt nẻ, hiện tượng này rất thường gặp ở giai đoạn cho con bú, còn giai đoạn 3 tháng cuối thai kỳ thì tuyến Montgomery phình to. Da vú là vùng da mỏng bao quanh các mô tuyến của ngực. Vùng da này yếu và thường dễ biến dạng, đặc biệt là sau thời gian cho con bú. Mạch máu và thần kinh của vú Cả hai giới nam nữ đều có một sự tập trung mạch máu và các đầu dây thần kinh trong núm vú. Động mạch nuôi vú được chia ra từ động mạch ngực gồm động mạch ngực trong, động mạch ngực trước, động mạch ngực sau. Tĩnh mạch của vú chủ yếu là tĩnh mạch nách đổ vào tĩnh mạch ngực trong và tĩnh mạch ngực. Bạch huyết đổ về ba chuỗi hạch là chuỗi hạch nách, chuỗi hạch ngực trong và chuỗi hạch trên đòn. Khoảng 75% bạch huyết từ vú đi đến các hạch nách cùng phía, phần còn lại đi đến hạch ức tới vú bên kia hoặc các hạch bạch huyết bụng. Hạch nách, hạch ngực, hạch dưới vai, hạch cánh tay, tất cả đều đổ vào hạch bạch huyết trung tâm rồi tới hạch trên nách. Sự dẫn bạch huyết ở vú liên quan đến ung thư học vì các tế bào ung thư có thể thoát ra từ khối u và trở thành bệnh ung thư có thể di căn đến các phần khác của cơ thể Thần kinh do các nhánh trên đòn của đám rối cổ nông và các nhánh xiên của dây thần kinh gian sườn 2, 3, 4, 5 và 6. Một số lượng lớn các đầu tận cùng của dây thần kinh cảm giác truyền tín hiệu như sờ, đau và nhiệt thì chịu trách nhiệm về những xúc cảm tinh tế của quầng vú, và đặc biệt là núm vú. Cùng với những dây thần kinh cảm giác, hai đầu vú cũng có nhiều dây thần kinh đặc biệt của hệ thần kinh tự động, nó điều khiển các chức năng vô thức của cơ thể như tiêu hóa và tiết mồ hôi Núi đôi đẹp, mềm và gợi cảm là do mô mỡ. Mỗi bên núi đôi nặng trung bình khoảng 500 gram, chiếm khoảng 4- 5% lượng mỡ trong cơ thể nhưng núi đôi cũng có thể bị xệ xuống một cách tự nhiên bởi tuổi tác do dây chằng ngày càng dãn ra. Núi đôi được nâng chủ yếu bởi dây chằng Cooper, cộng thêm sự nâng đỡ từ da bao vú, và điều này quyết định hình dạng của vú. Vú hình dạng chuẩn Núm vú hướng về phía ngoài và song song với mặt đất. Vú phải đều đặn và mềm, không có bằng chứng nào của sự sụt lún. Vú võng Núm vú hướng xuống dưới còn vú thì rũ xuống phía dưới mặt đất. Thường gặp nhất ở những phụ nữ gần đến tuổi mãn kinh. Phần mô giữ cho vú hướng lên trên bắt đầu mất tính đàn hồi và vững chắc. Ở những phụ nữ trẻ bị vú võng thường là do vú không được hỗ trợ đầy đủ trong quá trình phát triển ở tuổi dậy thì. Mô liên kết nâng đỡ cho vú có thể yếu đi và làm cho vú võng xuống. Những phụ nữ có vú lớn cũng có khả năng vú bị võng xuống tùy thuộc vào lượng mỡ bên trong vú. Vú cúp Vú không võng xuống mà hơi uốn vào trong ở phía trên quầng vú. Núm vú sẽ hướng lên trên và hơi thẳng đứng so với mặt đất. Vú nhỏ Có rất ít mô mỡ bên trong, núm vú và quầng vú thường là nhỏ. Vú nhỏ luôn luôn không được các phụ nữ chào đón. Vú lớn Những phụ nữ với vú lớn có thể tích mô mỡ lớn bên trong vú. Các núm vú và quầng vú thường lớn hơn so với những người khác. Vú hẹp hoặc vú ống Có dạng hình ống hoặc hình trụ hẹp cùng với núm và quầng vú rất nhỏ. Ở một số trường hợp, núm vú có thể nhô lên do mô vú bị thoát vị hoặc trồi ra ở phần đỉnh. Vú có hình dạng ống có nghĩa là 2 vú xa nhau do có phần nền nhỏ. Vú hẹp được phân loại nằm trong nhóm vú phát triển bất thường. Ngực gà Là loại dị dạng vú nặng, xương ức nhô ra phía trước và vú nằm phẳng dẹt ở trên lồng ngực. Vú không còn hình dạng thật sự của nó nữa. Nguyên nhân của tình trạng này là do dị tật bẩm sinh. Ngực lõm Ngược với tình trạng ngực gà, khi đó lồng ngực bị lõm vào trong. Bầu ngực cao săn chắc là niềm kiêu hãnh của phái nữ, mang lại những đường cong sinh lý hấp dẫn, tạo nên sự tự tin, kiêu kỳ của nữ giới. Chức năng vú là tiết ra sữa vào núm vú để nuôi con, làm người phụ nữ được nếm trải thiên chức làm mẹ. Vú cũng là đai khoái cảm tình dục quan trọng, mang lại khoái lạc thần tiên cho người phụ nữ, đồng thời khiến nam giới không ngừng mơ tưởng, ham muốn, đặc biệt là trong thời kỳ rụng trứng, sự tăng hormone estrogen trong cơ thể người phụ nữ làm cho vú căng phồng, quyến rũ. Nếu phụ nữ tăng hay giảm trọng lượng thì kích thước của vú cũng có thể thay đổi theo thời gian. Việc vú tăng kích thước trong thời kỳ mang thai và khi cho con bú cũng là bình thường, chủ yếu do sự phình ra của tuyến vú trước khi thấy bụng to ra để đáp ứng lại hormone prolactin, nhất là trong 3 tháng đầu, vú trở nên cực kỳ mềm mại và lớn hơn để chuẩn bị sữa nuôi con. Kích thước vú phụ nữ cũng thường thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt, đặc biệt trong hội chứng bí tiểu trước kỳ kinh hoặc có thể bị sưng nhẹ, đau, mềm trước khi kỳ kinh bắt đầu. Những dấu hiệu này cũng có thể xảy ra trong suốt quá trình rụng trứng. Hai vú có thể có kích cỡ không bằng nhau đặc biệt là khi vú đang phát triển trong thời kỳ dậy thì. Thường số lượng phụ nữ có vú trái lớn nhiều hơn so với số phụ nữ có vú phải lớn một ít. Một số trường hợp hiếm gặp là một bên vú to hoặc nhỏ hơn bên kia rất nhiều hoặc hoàn toàn không phát triển. Ngoài ra, vú phát triển quá mức là tình trạng liên quan đến sự phát triển quá mức của vú trong thời kỳ dậy thì hoặc trong một số trường hợp vú tiếp tục phát triển sau tuổi dậy thì. Vú kém phát triển là tình trạng một hoặc cả hai bên vú đều không phát triển trong thời kỳ dậy thì. Sự phát triển của vú phụ nữ trong thời kỳ dậy thì là do các hormone sinh dục chủ yếu là estrogen. Hormone estrogen này đã được chứng minh gây ra sự phát triển giống như phụ nữ, làm vú to ra ở nam, gọi là hiện tượng nữ hóa. Hormone này còn được sử dụng trong các ca phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Vú cũng to ra như một hiệu ứng phụ bình thường của việc dùng thuốc ngừa thai. Việc đàn ông âu yếm đến vòng một phụ nữ sẽ dẫn đến sự thay đổi về kích thước của ngực. Thậm chí tăng đến 25% kích thước ban đầu. Ngực xệ do cho con bú hoặc ngực xệ khi có tuổi do mất đi độ săn chắc và đàn hồi. Thói quen hút thuốc hay việc tăng giảm cân nặn cũng là nguyên nhân làm cho ngực chảy xệ. Lông mọc xung quanh ngực là bình thường vì không phải phụ nữ nào cũng mọc lông ở quầng đỏ xung quanh nhũ hoa. Tuy nhiên, trong khu vực này, nang lông cũng giống những vùng khác của da nên nếu lông có xuất hiện thì cũng là bình thường. Nhũ hoa hình thành trong bào thai, điển hình nam giới cũng có nhũ hoa mặc dù không có chức năng gì vì tất cả đều phát triển giống nhau ở những tuần đầu của bào thai. Khi phôi thai được 60 ngày tuổi, hormone testosterone mới bắt đầu tham gia dẫn đến những thay đổi trong hoạt động của tế bào ở bộ phận sinh sản và não. Testosterone làm bào thai nam tiết ra các nhân tố ngăn chặn sự phát triển của các cấu trúc nữ và đồng thời tác động tới các đặc điểm giới tính khác. Do đó, nam giới dù có ngực nhưng là ngực phẳng, núm vú cũng lép. Xem thêm Siêu âm vú - Phương pháp tầm soát ung thư vú Điều trị bảo tồn tuyến vú trong ung thư vú Dấu hiệu và nguyên nhân viêm vú Tầm soát ung thư vú Phần II
Xin xem các bài khác tại phụ nữ định hướng và đàn bà định hướng Tập tinThe Birth of Venus detail - Tranh của Sandro Botticelli The Birth of Venus khoảng 1485 Tập tinSymbol Biểu tượng của sinh vật cái trong sinh học và nữ giới, hình chiếc gương và chiếc lược. Đây cũng là biểu tượng của Sao Kim trong chiêm tinh học, của thần Vệ nữ trong thần thoại La Mã và của đồng trong thuật giả kim. Phụ nữ hay đàn bà là từ chỉ giống cái của loài người. Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn. Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một con người giống cái, bất kể tuổi tác, như là trong nhóm từ "quyền phụ nữ". Phụ nữ có phát triển gene bình thường có khả năng sinh đẻ từ khi dậy thì cho tới khi mãn kinh. Liên quan đến vấn đề giới tính, một phụ nữ có thể là một người có giới tính trùng hợp với bản dạng giới,[1] hoặc có các đặc điểm giới tính mà không phải là nam cũng không phải là nữngười lưỡng tính. Khái niệm và ngôn ngữ sử dụng[] Phụ nữ là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường. Phụ nữ, phân biệt với đàn ông/nam giới, là một trong hai giới tính truyền thống, cơ bản và đặc trưng của loài người. Nhìn theo khía cạnh sinh học, nữ giới chỉ những người thuộc giống cái, với bộ nhiễm sắc thể giới tính XX. Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều từ gần nghĩa với "phụ nữ", đều chỉ một nhóm đối tượng thuộc nữ giới nhưng mang tính phân loại cao hơn. Một số từ tiêu biểu hay gặp là đàn bà, phụ nữ, con gái... Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội. Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng. Đàn bà có một định nghĩa tương tự, nhưng bản thân nó đã không thể hiện sự trang trọng. Nó cho một cái nhìn bao hàm nhìều mặt, cả về khía cạnh xã hội cũng như bản chất sinh học... Thông thường, chỉ nên sử dụng từ "đàn bà" khi cần một cái nhìn thật sự trung lập, hoặc muốn thể hiện một thái độ thiếu thiện cảm, một chút kỳ thị đối với nữ giới đó, bởi nó khiến người ta liên tưởng đến những mặt xấu, hoặc được cho là xấu, mang đặc trưng và thường gặp ở nữ giới. Con gái chỉ những nữ giới trẻ, thường ở độ tuổi vị thành niên và thanh niên, những người đã có biểu hiện rõ ràng của giới tính nữ nhỏ hơn nữa thì được gọi là bé gái nhưng chưa được cho là trưởng thành. Không có ranh giới rõ rệt giữa các từ này. Có những nữ giới mặc dù chưa kết hôn, chưa quan hệ tình dục... nhưng có nhiều biểu hiện tầm thường vẫn bị coi là "đàn bà"; mặt khác, cũng có những nữ giới đã trưởng thành nhưng dưới một cái nhìn cao hơn, vẫn được cho là ngây thơ, trong sáng... và được gọi là "cô gái". Ngoài ra, còn một số từ khác để chỉ đối tượng nữ giới, như "mụ", "thị"... nhưng ít được sử dụng và thể hiện thành kiến cá nhân. Biểu tượng sinh học[] Biểu tượng của Sao Kim hoặc nữ thần Aphrodite trong tiếng Hy Lạp cũng được dùng trong sinh học để mô tả giống cái.[2] Đây là một biểu tượng cách điệu của gương nằm trên tay của nữ thần Vệ nữ hoặc một biểu tượng của nữ thần này một vòng tròn với một dấu thập ở dưới. Biểu tượng Venus cũng đồng thời đại diện cho nữ tính, và trong giả kim thuật cổ đại cũng là biểu tượng của kim loại đồng. Các nhà giả kim thuật xây dựng biểu tượng này từ một hình tròn biểu tượng cho ý thức nằm trên một dấu thập biểu tượng cho vật chất. Sinh học và giới tính[] Tập tinScheme female reproductive Hệ thống sinh sản nữ. Tập tinSky spectral Phổ karyotype của một người nữ. kết hợp XX được hình thành ở tuần thứ 23 của thai kỳ. Tập tinAnterior view of human female and male, with Hình ảnh một phụ nữ trưởng thành, với hình ảnh một nam giới bên cạnh để so sánh. Chú ý cả hai người mẫu nam nữ đều đã cạo bớt lông trên cơ thể. Về sinh học, cơ quan sinh dục nữ gồm trong hệ sinh sản, theo đó các đặc điểm sinh dục thứ hai có nhiệm vụ nuôi dưỡng đứa trẻ hay, trong một số nền văn hoá, thu hút nam giới. Buồng trứng, ngoài chức năng thường xuyên tạo hormone, còn tạo ra các giao tử nữ được gọi là trứng mà, khi được thụ tinh bởi các giao tử nam tinh trùng, hình thành nên các cá nhân di truyền mới. Buồng trứng là một cơ quan có mô để bảo vệ và nuôi dưỡng bào thai đang phát triển và cơ để đẩy khi sinh đẻ. Âm đạo được sử dụng trong giao cấu và sinh đẻ dù từ âm đạo thường được dùng một cách thông tục và không chính xác để chỉ âm hộ hay cơ quan sinh dục ngoài của phụ nữ, vốn cũng gồm môi âm hộ, âm vật, và niệu đạo nữ. Ngực phát triển từ tuyến mồ hôi để tạo sữa, một chất dinh dưỡng là đặc điểm riêng có của loài có vú, cùng với việc sinh con. Ở phụ nữ trưởng thành, vú nói chung có kích thước lớn hơn hầu hết các loài động vật có vú khác, kích thước lớn này, không cần thiết cho việc tạo sữa, có lẽ ít nhất một phần là kết quả của sự chọn lọc giới tính. Về những điều khác biệt khác nữa về thể chất giữa nam và nữ, xem Nam. Một mức độ mất cân bằng hormone của người mẹ và một số loại hoá chất hay thuốc có thể làm thay đổi những đặc điểm giới tính thứ hai của bào thai. Đa số phụ nữ có karyotype 46,XX, nhưng khoảng một phần ngàn sẽ là 47,XXX, và một trên 2500 sẽ là 45,X. Nó trái ngược với karotype đặc trưng nam 46,XY; vì thế, X và các nhiễm sắc thể Y được gọi là nữ và nam. Bởi con người được thừa hưởng mitochondrial DNA chỉ từ tế bào trứng của mẹ, các cuộc nghiên cứu gene của phụ nữ thường có khuynh hướng tập trung vào mitochondrial DNA. Các yếu tố sinh học không phải là các yếu tố đủ để quyết định liệu một người tự coi mình là một phụ nữ hay bị coi là một phụ nữ. Các cá nhân chuyển giới tính Intersex, có lẫn các đặc điểm thể hình và/hay gene, có thể sử dụng tiêu chí khác trong việc xác định giới tính rõ ràng. Cũng có các phụ nữ lưỡng giới tính hay chuyển giới tính, những người khi sinh hay về thân thể được cho là nam giới lúc sinh, nhưng được xác định là nữ; có những định nghĩa xã hội, pháp lý và cá nhân khác nhau về các vấn đề đó. Xem transwoman. Đa số phụ nữ trải qua quá trình có kinh nguyệt và sau đó có thể mang thai và sinh đẻ.[3] Điều này nói chung đòi hỏi sự thụ tinh bên trong của trứng với tinh trùng của một người đàn ông qua quan hệ tình dục, dù thụ tinh nhân tạo hay cấy tinh trùng đã thụ tinh sẵn cũng có thể được thực hiện xem kỹ thuật sinh sản. Việc nghiên cứu sinh sản nữ và các cơ quan sinh sản được gọi là phụ khoa. Có một số bệnh chủ yếu ảnh hưởng tới nữ, như lupus. Tương tự, có một số bệnh liên quan tới giới tính thường xuyên hay chỉ xảy ra với nữ giới, ví dụ ung thư vú, ung thư cổ tử cung, hay ung thư buồng trứng. Phụ nữ và nam giới có thể có các triệu chứng bệnh khác nhau và có thể phản ứng khác nhau với việc điều trị y tế. Lĩnh vực này của nghiên cứu y học được gọi là y khoa dựa trên giới tính. Trong giai đoạn đầu phát triển của bào thai, thai nhi ở cả hai giới tính thể hiện trung tính; việc sản sinh các hormone là cái làm thay đổi vẻ ngoài về hình thể của nam và nữ. Như trong trường hợp không có hai giới tính, các loài như vậy sinh sản vô tính, vẻ ngoài trung tính gần với nữ hơn là nam. So sánh với nam giới[] Dù có ít nữ được sinh ra hơn nam tỷ lệ khoảng 1 vì có tuổi thọ dài hơn chỉ có 81 nam giới ở hay trên độ tuổi 60 cho mỗi 100 phụ nữ ở cùng lứa tuổi. Phụ nữ thường có tuổi thọ trung bình dài hơn nam giới.[4] Điều này bởi sự tổng hợp các yếu tố gen có nhiều và đa dạng gen hiện diện trong các nhiếm sắc thể giới tính ở phụ nữ; xã hội học như không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự ở hầu hết các quốc gia; các lựa chọn liên quan tới sức khoẻ như tự tử hay hút thuốc lá, uống rượu; sự hiện diện của estrogen hormone nữ, vốn có hiệu ứng bảo vệ tim. và joêik ứmg kích thích tố nam cao ở nam giới. Trong tổng dân số nhân loại, có nam trên mỗi 100 nữ nguồn 2001 World Almanac. Về mặt sức mạnh thể chất, phụ nữ kém hơn nhiều so với đàn ông. Mọi kỷ lục thế giới về các môn thể thao vận động điền kinh, vật, cử tạ... đều thuộc về đàn ông. Sức chịu đựng của phụ nữ cũng kém hơn, do đó các công việc nặng nhọc đi lính, thợ mỏ, thám hiểm... phần lớn do đàn ông thực hiện. Về mặt trí tuệ, vào năm 1999, một nghiên cứu của Richard Lynn, giáo sư danh dự tại Đại học Ulster - một trong những học giả của Anh, trong đó ông đã phân tích số liệu từ một số bài test được xuất bản trước đó và phát hiện ra rằng chỉ số IQ trung bình của nam giới cao hơn của nữ giới khoảng 3-4 điểm IQ.[5] Các phân tích quy mô lớn của Lynn thực hiện năm 2004 khảo sát sự khác biệt giới cũng chỉ ra nam giới có chỉ số IQ trung bình cao hơn nữ là điểm IQ.[6] Do vậy, nam giới phù hợp với những nhiệm vụ có độ phức tạp cao hơn là phụ nữ. Số đàn ông có chỉ số IQ cao sẽ lớn hơn rất nhiều so với phụ nữ, Richard Lynn cho biết số đàn ông có IQ cao hơn 130 nhiều gấp 3 lần so với phụ nữ, và số đàn ông có IQ cao hơn 145 nhiều gấp 5,5 lần so với phụ nữ. Điều này giải thích tại sao phần lớn các giải Nobel, các phát minh khoa học hoặc các Đại kiện tướng cờ vua thuộc về nam giới[7]. Văn hoá và vai trò giới tính[] Bản mẫuFixBunching Tập tinWeaving Một phụ nữ đang dệt. Dệt theo lịch sử là một công việc của phụ nữ ở một số nền văn hoá. Bản mẫuFixBunching Tập tin Các phụ nữ người Thổ Nhĩ Kỳ hút hookah, 1910 Bản mẫuFixBunching Tập tinRoundhouse Những phụ nữ làm công việc vệ sinh trong xưởng xe lửa đang ăn trưa, Chicago and North Western Railway, 1942. Trong Thế chiến II, phụ nữ đảm nhiệm nhiều công việc vốn trước kia chỉ dành cho đàn ông. Bản mẫuFixBunching Bài chi tiết Vai trò giới tính Trong nhiều nền văn hoá tiền sử, phụ nữ có một vai trò văn hoá riêng biệt. Trong các xã hội săn bắn hái lượm, phụ nữ nói chung hái lượm các loại cây lương thực, bắt các loại thú nhỏ, câu cá làm thức ăn và học sử dụng các sản phẩm sữa, trong khi đàn ông săn thịt từ các loại thú lớn.[8] Trong lịch sử gần đây hơn, các vai trò giới của phụ nữ đã thay đổi rất lớn. Theo truyền thống, phụ nữ tầng lớp trung lưu chủ yếu tham gia vào các trách nhiệm trong gia đình có nhấn mạnh tới việc chăm sóc trẻ em[9]. Với phụ nữ nghèo hơn, đặc biệt là phụ nữ thuộc tầng lớp lao động, điều này vẫn thường chỉ là một hoàn cảnh lý tưởng, bởi nhu cầu kinh tế buộc họ phải kiếm việc bên ngoài gia đình. Tuy nhiên, những công việc họ có thể làm thường bị trả lương thấp hơn so với nam giới[10]. Khi những thay đổi trong thị trường lao động cho phụ nữ diễn ra, những công việc họ có thể đảm nhiệm thay đổi từ chỉ những công việc "bẩn thỉu" kéo dài trong các nhà máy như các "lao công", trở thành các công việc văn phòng được tôn trọng nhiều hơn nơi cần các lao động có trình độ, sự tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động Hoa Kỳ đã tăng từ 6% năm 1900 lên 23% năm 1923. Những thay đổi đó trong lực lượng lao động đã dẫn tới những thay đổi trong thái độ của phụ nữ tại nơi làm việc, cho phép những sự phát triển khiến phụ nữ trở nên có định hướng về nghề nghiệp và giáo dục lớn hơn.[11] Các phong trào ủng hộ cơ hội bình đẳng cho cả hai giới và quyền bình đẳng không cần biết tới giới tính. Thông qua một sự phối hợp những thay đổi về kinh tế và những nỗ lực của phong trào nữ quyền,Bản mẫuSpecify trong những thập kỷ gần đây phụ nữ ở hầu hết các xã hội đã có quyền tiếp cận với nghề nghiệp bên ngoài công việc chăm sóc gia đình truyền thống. Nhiều nhà quan sát, gồm cả các nhóm nữ quyền, vẫn cho rằng phụ nữ trong ngành công nghiệp và thương mại phải đối mặt với sự bất bình đẳng trong thăng tiến nghề nghiệp[12]/. Giáo dục và việc làm[] Các quốc gia OECD[] Giáo dục Sự khác biệt giới tính tại các quốc gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD đã được giảm bớt trong 30 năm qua. Phụ nữ trẻ ngày nay hầu hết đều có trình độ giáo dục cấp ba tại 19 trong số 30 nước thuộc OECD, số phụ nữ trong độ tuổi 25 tới 34 đã hoàn thành giáo dục cấp ba lớn gấp hai lần số phụ nữ trong độ tuổi 55 tới 64. Tại 21 trong 21 quốc gia OECD với dữ liệu có thể so sánh, số lượng phụ nữ tốt nghiệp các chương trình cấp đại học tương đương hay vượt quá số lượng nam giới. Các cô bé 15 tuổi thường có nhiều dự định nghề nghiệp hơn các cậu bé cùng độ tuổi.[13] Tuy phụ nữ chiếm hơn một nửa số người tốt nghiệp đại học ở nhiều quốc gia OECD, họ chỉ nhận được 30% bằng cấp giáo dục cấp ba được trao về khoa học và kỹ sư, và phụ nữ chỉ chiếm 25% tới 35% số nhà nghiên cứu tại hầu hết các quốc gia OECD.[14] Xem thêm[] Bản mẫuMulticol Con gái Sinh đẻ Chủ nghĩa nam nữ bình quyền Tâm lý phụ nữ Nữ hoá xã hội học Nghiên cứu giới tính Khác biệt giới tính Quý bà Các danh sách phụ nữ Bản mẫuMulticol-break Mẫu hệ Tính ghét đàn bà Mitochondrial Eve Sản khoa Phân biệt đối xử theo giới tính Phụ nữ trong khoa học Phụ nữ trong tôn giáo Phụ nữ Việt Nam Bản mẫuMulticol-end Chú thích[] ↑ Sexual Orientation and Gender Expression in Social Work Practice, edited by Deana F. Morrow and Lori Messinger 2006, Bản mẫuISBN, page 8 "Gender identity refers to an individual's personal sense of identity as [man] or [woman], or some combination thereof." ↑ Jose A. Fadul. Encyclopedia of Theory & Practice in Psychotherapy & Counseling p. 337 ↑ Menarche and menstruation are absent in many of the intersex and transgender conditions mentioned above and also in primary amenorrhea. ↑ Lỗi Lua trong tại dòng 80 module 'ModuleCitation/CS1/Configuration' not found. ↑ Lỗi Lua trong tại dòng 80 module 'ModuleCitation/CS1/Configuration' not found. ↑ Lỗi Lua trong tại dòng 80 module 'ModuleCitation/CS1/Configuration' not found. ↑ ↑ Sách Lịch sử 5 ↑ Lỗi Lua trong tại dòng 80 module 'ModuleCitation/CS1/Configuration' not found. ↑ Lỗi Lua trong tại dòng 80 module 'ModuleCitation/CS1/Configuration' not found. ↑ Lỗi Lua trong tại dòng 80 module 'ModuleCitation/CS1/Configuration' not found. ↑ Luận văn về Bất bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động ↑ Education Levels Rising in OECD Countries but Low Attainment Still Hampers Some, Organisation for Economic Co-operation and Development, Publication Date 14/09/2004. Truy cập December 2006. ↑ Women in Scientific Careers Unleashing the Potential, Organisation for Economic Co-operation and Development, ISBN 92-64-02537-5, Publication Date 20/11/2006. Truy cập December 2006. Đọc thêm[] Chafe, William H., "The American Woman Her Changing Social, Economic, And Political Roles, 1920-1970", Oxford University Press, 1972. ISBN 0-19-501785-4 Roget’s II The New Thesaurus, Boston Houghton Mifflin, 2003 3rd edition ISBN 0-618-25414-5 McWhorter, John. 'The Uses of Ugliness', The New Republic Online, ngày 31 tháng 1 năm 2002. Truy cập May 11 2005 ["bitch" as an affectionate term] McWhorter, John. Authentically Black Essays for the Black Silent Majority New York Gotham, 2003 ISBN 1-59240-001-9 [casual use of "bitch" in ebonics] Routledge international encyclopedia of women, 4 vls., ed. by Cheris Kramarae and Dale Spender, Routledge 2000 Women in world history a biographical encyclopedia, 17 vls., ed. by Anne Commire, Waterford, Conn. [etc.] Yorkin Publ. [etc.], 1999 - 2002 "Người Phụ Nữ Qua Nhân Tướng Học & Văn Học Dân Gian"-Lương Trọng Nhàn- Nhà Xuất Bản Hồng Đức. Liên kết ngoài[] Bản mẫuThể loại Commons Bản mẫuWikiquote Bản mẫuWiktionary Lịch sử Women's History in America A History of Women’s Entrance into Medicine in France studies and digitized texts by the BIUM Bibliothèque interuniversitaire de médecine et d'odontologie, Paris see its digital library Medic. Tôn giáo Women and Christianity representations and practices Women in Islam
vú đàn bà số mấy